Tóm tắt 30 giây

  • Hàm lượng dầu trong nước thải tại mỏ Đại Hùng giảm từ 35–50 ppm xuống khoảng 15–20 ppm sau khi áp dụng công nghệ tách dầu bằng lực xoáy ly tâm.
  • Lượng hóa chất sử dụng giảm khoảng 25% so với trước khi cải hoán hệ thống xử lý.
  • Hệ thống mới thu hồi thêm khoảng 50–100 thùng dầu mỗi ngày.
  • Kết quả vận hành ổn định trong khoảng 15–22 ppm, thấp hơn ngưỡng 40 ppm dùng làm yêu cầu kỹ thuật trong nghiên cứu.

Nước đồng hành tăng khiến phương pháp lắng trọng lực quá tải

Trong khai thác dầu khí, cùng với dầu thô và khí, các giếng thường đưa lên bề mặt một lượng nước từ lòng đất gọi là nước đồng hành, có thể chứa dầu phân tán và cần xử lý trước khi xả thải. Ở các mỏ hoạt động lâu năm, tỷ lệ nước trong dòng sản phẩm có xu hướng tăng, buộc hệ thống xử lý phải đáp ứng khối lượng lớn hơn.

Trước khi cải tiến, hệ thống tại Đại Hùng chủ yếu dùng phương pháp lắng trọng lực, dựa vào khác biệt khối lượng riêng giữa dầu và nước. Phương pháp này tương đối đơn giản nhưng tách chậm; khi lượng nước tăng, thiết bị có thể quá tải và những giọt dầu nhỏ vẫn phân tán trong nước, khiến chất lượng sau xử lý không ổn định, ở mức khoảng 35–50 phần triệu (ppm).

Thiết bị Hydrocyclone tách dầu bằng chuyển động xoáy tốc độ cao

Nhóm nghiên cứu của PVEP và PVEP-NCS cải hoán hệ thống xử lý nước trên giàn khai thác, ứng dụng thiết bị Hydrocyclone. Dòng nước chứa dầu được đưa vào theo hướng tạo chuyển động xoáy tốc độ cao; dưới tác động của lực ly tâm, nước và giọt dầu có khối lượng riêng khác nhau được phân tách và đi theo những đường thoát riêng.

Một nội dung quan trọng là xác định chế độ vận hành phù hợp. Nhóm tính toán chênh lệch áp suất giữa dòng vào và ra, duy trì tỷ lệ chênh áp trong khoảng 1,5–2,0 để kiểm soát quá trình phân tách và thích ứng với sự thay đổi của dòng nước trong quá trình khai thác.

Chất lượng nước tốt hơn, ít hóa chất hơn và thu hồi thêm dầu

Hàm lượng dầu trong nước thải giảm từ 35–50 ppm xuống khoảng 15–20 ppm; phần đánh giá vận hành ghi nhận kết quả ổn định trong khoảng 15–22 ppm, thấp hơn ngưỡng 40 ppm dùng làm yêu cầu kỹ thuật trong nghiên cứu. Theo bài viết, điều này góp phần hạn chế tác động của khai thác tới môi trường biển.

Lượng hóa chất phục vụ xử lý giảm khoảng 25% so với trước khi cải hoán. Hệ thống mới còn cho phép tận thu một phần dầu trước đây lẫn trong dòng nước, với lượng thu hồi thêm khoảng 50–100 thùng/ngày, và tạo điều kiện vận hành ở công suất cao hơn khi tỷ lệ nước đồng hành tăng. Giải pháp là một kết quả của cụm công trình về mỏ Đại Hùng được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7.

Ý nghĩa với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà khoa học Việt Nam

  • Doanh nghiệp vận hành mỏ lâu năm có thể tham khảo cách đổi nguyên lý phân tách thay vì chỉ mở rộng công suất thiết bị theo phương pháp cũ.
  • Đơn vị xử lý nước thải công nghiệp chứa dầu có thể quan tâm đến chỉ số chênh áp 1,5–2,0 và các mức ppm được ghi nhận khi vận hành.
  • Việc giảm hóa chất 25% và thu hồi thêm dầu cho thấy cải tiến công nghệ có thể đồng thời phục vụ sản xuất và bảo vệ môi trường.

Hàm lượng dầu trong nước thải ở mỏ Đại Hùng giảm bao nhiêu?

Hàm lượng dầu trong nước thải giảm từ mức 35–50 ppm xuống khoảng 15–20 ppm sau khi ứng dụng công nghệ tách dầu bằng lực xoáy ly tâm. Kết quả vận hành được ghi nhận ổn định trong khoảng 15–22 ppm.

Công nghệ xoáy ly tâm Hydrocyclone tách dầu khỏi nước như thế nào?

Dòng nước chứa dầu được đưa vào thiết bị theo hướng tạo chuyển động xoáy với tốc độ cao. Lực ly tâm làm nước và giọt dầu có khối lượng riêng khác nhau tách ra, đi theo các đường thoát riêng, nhanh hơn so với lắng tự nhiên.

Ngoài chất lượng nước, giải pháp mang lại lợi ích gì?

Lượng hóa chất sử dụng giảm khoảng 25% so với trước khi cải hoán. Hệ thống còn thu hồi thêm khoảng 50–100 thùng dầu mỗi ngày và cho phép vận hành ở công suất cao hơn khi lượng nước đồng hành tăng.

Nguồn: Tổng hợp từ Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ (đăng ngày 05/11/2026)