Mỏ Đại Hùng: ba giếng khoan vượt dự kiến, doanh thu 4,5 tỷ USD
Từ mỏ chuyển giao với giá tượng trưng 1 USD, Đại Hùng nay có ba giếng khoan Pha 3 cho lưu lượng dầu vượt kế hoạch 43,2% đến 296% nhờ các giải pháp công nghệ do kỹ sư Việt Nam thực hiện.
Tóm tắt 30 giây
- Ba giếng khoan DH-27P, DH-26P, DH-25P của Đại Hùng Pha 3 cho lưu lượng vượt kế hoạch từ 43,2% đến 296%.
- Giai đoạn 2003-2025, mỏ mang về doanh thu dầu khí hơn 4,526 tỷ USD, nộp ngân sách hơn 653 triệu USD.
- Nhiều giải pháp công nghệ giúp tiết kiệm khoảng 30, 25 và 50 triệu USD ở các hạng mục khác nhau.
- Cụm công trình được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 7.
Ba giếng khoan Pha 3 vượt xa kế hoạch
Ba giếng thuộc dự án Đại Hùng Pha 3 cho lưu lượng dầu cao hơn dự kiến từ 43,2% đến 296%:
| Giếng | Khối | Thực tế (thùng/ngày) | Dự kiến (thùng/ngày) |
|---|---|---|---|
| DH-27P | K | 1.485 | 375 |
| DH-26P | L | 2.689 | 900 |
| DH-25P | D | 3.289 | 2.296 |
Giếng DH-26P vượt kế hoạch 198,7%, giếng DH-25P vượt 43,2%.
Giải pháp công nghệ đứng sau kết quả
Các giải pháp do Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) và PVEP-NCS nghiên cứu gồm:
- Chuẩn hóa dữ liệu của 34 giếng.
- Tái xử lý địa chấn 3D và nghịch đảo địa chấn, nâng độ phân giải từ 20-25 m xuống 8-10 m.
- Ứng dụng học máy XGBoost với hệ số tương quan trên 0,9.
- Xây dựng 30 kịch bản mô phỏng địa thống kê.
- Đo địa vật lý trong khi khoan (LWD) tại giếng DH-25P và DH-26P.
Từ mỏ có nguy cơ dừng khai thác đến doanh thu hơn 4,5 tỷ USD
Mỏ Đại Hùng nằm ở lô 05-1(a), bể Nam Côn Sơn. Mỏ được chuyển giao cho phía Việt Nam năm 1999 với giá tượng trưng 1 USD, sau khi sản lượng giảm mạnh trong giai đoạn do nhà thầu nước ngoài điều hành, từ khoảng 35.000 xuống dưới 2.000 thùng/ngày. Sau khi Petrovietnam tiếp nhận hoạt động tại mỏ năm 2003, đội ngũ PVEP và PVEP-NCS chọn hướng công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế thay vì tiếp tục mô hình chi phí cao.
Giai đoạn 2003-2025, tổng doanh thu dầu khí của mỏ đạt hơn 4,526 tỷ USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 653 triệu USD và lợi nhuận sau thuế gần 924 triệu USD.
Tiết kiệm chi phí nhờ tự chủ thiết kế và vận hành
- Tối ưu chân đế ba giàn đầu giếng WHP-DH01, WHP-DH02 và WHP-DHN: tiết kiệm khoảng 30 triệu USD.
- Dùng đường ống cứng thay đường ống mềm cho hệ thống kết nối ngầm: tiết kiệm khoảng 25 triệu USD vốn đầu tư.
- Công nghệ sửa chữa nổi Wet Dock ngay tại mỏ: tiết kiệm khoảng 50 triệu USD.
- Chi phí quản lý giảm khoảng 50% khi nhân sự Việt Nam đảm nhiệm toàn bộ hoạt động phát triển mỏ so với khi có nhà điều hành nước ngoài.
- Dự án Đại Hùng Pha 3 có chi phí quản lý khoảng 10 triệu USD, tiết kiệm khoảng 10 triệu USD so với các dự án cùng quy mô.
Thay vì khai thác ngầm, dự án chuyển sang các giàn đầu giếng cố định, kết nối với hệ thống xử lý hiện có để tận dụng hạ tầng đã đầu tư. Việt Nam chủ động thiết kế, chế tạo công trình biển và dùng Wet Dock để sửa chữa, bảo dưỡng tại chỗ, hạn chế gián đoạn khai thác.
Ý nghĩa với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà khoa học Việt Nam
- Kết hợp dữ liệu địa chất, địa chấn và học máy có thể nâng độ chính xác khi lựa chọn vị trí khoan.
- Tự chủ thiết kế, chế tạo và sửa chữa công trình giúp giảm chi phí đầu tư và thời gian ngừng khai thác.
- Cụm công trình được Hội đồng cấp Nhà nước đề nghị xét Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 7, theo thông báo của Bộ KH&CN ngày 18/10/2026.
Mỏ Đại Hùng có từ khi nào và vì sao bị coi là kém hiệu quả?
Mỏ Đại Hùng nằm ở lô 05-1(a), bể Nam Côn Sơn, được chuyển giao cho phía Việt Nam năm 1999 với giá tượng trưng 1 USD. Trước đó sản lượng giảm từ khoảng 35.000 xuống dưới 2.000 thùng/ngày dưới sự điều hành của nhà thầu nước ngoài.
Ba giếng khoan Đại Hùng Pha 3 vượt kế hoạch bao nhiêu?
Lưu lượng dầu cao hơn dự kiến từ 43,2% đến 296%. Giếng DH-27P đạt 1.485 thùng/ngày so với 375 dự kiến, DH-26P đạt 2.689 so với 900 và DH-25P đạt 3.289 so với 2.296.
Công nghệ nào giúp mỏ Đại Hùng tiết kiệm chi phí?
Các giải pháp gồm tối ưu chân đế giàn đầu giếng (khoảng 30 triệu USD), dùng đường ống cứng thay ống mềm (khoảng 25 triệu USD) và công nghệ sửa chữa nổi Wet Dock (khoảng 50 triệu USD). Chi phí quản lý cũng giảm khoảng 50% khi nhân sự Việt Nam đảm nhiệm vận hành.
Nguồn: Tổng hợp từ Cổng Thông tin điện tử Bộ KH&CN, Cổng Thông tin điện tử Bộ KH&CN (bài thứ hai) (đăng ngày 02/11/2026)

BSR làm chủ công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng tại Dung Quất
NATIF hỗ trợ lãi suất vay đổi mới công nghệ tối đa 6%/năm
Đưa AI vào khu vực công: Việt Nam học kinh nghiệm từ Australia
Hội nghị ASEAN về 5G lần thứ 7: độ phủ 5G Việt Nam đạt 91,9%
Diễn đàn AI Việt Nam - Hàn Quốc 2026: từ tiếp nhận sang đồng nghiên cứu
Năng lượng nguyên tử trong y tế: Bắc Ninh bàn đầu tư xạ trị
Bình luận (0)