Tóm tắt 30 giây

  • Chi phí kiểm tra 3 giếng mỗi năm giảm từ 320.000 USD xuống khoảng 40.000 USD, tương đương giảm 87,5%.
  • Phương pháp phân tích dấu vân địa hóa cho kết quả sai số dưới 3% so với đo địa vật lý khai thác truyền thống.
  • Mỗi chiến dịch đo truyền thống có thể phải dừng giếng 5–7 ngày; phương pháp mới lấy mẫu trên bề mặt nên thời gian gián đoạn không đáng kể.
  • Giải pháp được ứng dụng tại Đại Hùng từ năm 2015, tổng giá trị làm lợi lũy kế khoảng 2 triệu USD sau 7 năm.

Xác định tỷ lệ dầu từng tầng chứa mà không phải dừng giếng

Tại mỏ Đại Hùng, lô 05-1(a), bể Nam Côn Sơn, nhiều giếng khai thác đồng thời từ các tầng đá vôi và trầm tích lục nguyên. Mỗi tầng có đặc điểm địa chất và khả năng chứa dầu khác nhau, nên việc xác định tỷ lệ dầu đóng góp từ từng tầng có ý nghĩa quan trọng trong điều chỉnh chế độ vận hành và quản lý tài nguyên.

Trước đây, công tác này chủ yếu dựa vào đo địa vật lý khai thác, đưa thiết bị chuyên dụng xuống giếng để ghi nhận thông số dòng sản phẩm. Quá trình này đòi hỏi huy động phương tiện, thiết bị và có nguy cơ phát sinh sự cố, đặc biệt ở các giếng nghiêng lớn hoặc cấu trúc phức tạp.

Dấu vân địa hóa dùng sắc ký khí và khối phổ

Nhóm nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích dấu vân địa hóa (Geochemical Fingerprints), dựa trên sự khác biệt về thành phần hóa học của dầu thô ở từng tầng chứa. Họ dùng sắc ký khí và khối phổ để phân tích mẫu dầu từ từng tầng, sau đó đối chiếu với mẫu dầu hỗn hợp tại miệng giếng và dùng phương pháp tính định lượng để xác định tỷ lệ đóng góp.

Tại giếng DH-13P, từ ngày 1/9 đến 22/10/2021, nhóm thực hiện 7 lần lấy mẫu. Kết quả cho thấy tầng đá vôi đóng góp trung bình 91,4% dòng sản phẩm, tầng trầm tích lục nguyên chiếm 8,6%; tỷ lệ của tầng đá vôi dao động từ 88,8% đến 92,9%. Đối chiếu với phương pháp truyền thống, sai số dưới 3%.

Chi phí giảm còn một phần tám và bớt thời gian dừng giếng

Với quy mô kiểm tra 3 giếng mỗi năm, phương pháp đo địa vật lý truyền thống cần khoảng 320.000 USD. Khi chuyển sang phân tích địa hóa, kinh phí chỉ còn khoảng 40.000 USD, tức khoảng 1/8 mức cũ; số tiền tiết kiệm đạt khoảng 280.000 USD mỗi năm, tương ứng giảm 87,5%.

Mỗi chiến dịch đo theo phương pháp truyền thống có thể phải dừng giếng 5–7 ngày, còn với công nghệ địa hóa, mẫu dầu được thu thập trên bề mặt nên gián đoạn không đáng kể. Tổng giá trị làm lợi lũy kế khoảng 2 triệu USD sau 7 năm áp dụng. Khả năng xác định tỷ lệ đóng góp từng tầng còn giúp đơn vị vận hành theo dõi biến động của vỉa chứa qua các thời kỳ.

Ý nghĩa với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà khoa học Việt Nam

  • Doanh nghiệp khai thác tài nguyên có thể xem xét phương pháp lấy mẫu trên bề mặt để giảm chi phí và thời gian dừng sản xuất.
  • Phòng thí nghiệm phân tích hóa học có thể quan tâm đến hướng ứng dụng sắc ký khí và khối phổ vào quản lý vỉa chứa.
  • Việc đối chiếu kết quả với phương pháp truyền thống (sai số dưới 3%) là ví dụ về cách kiểm chứng một giải pháp mới trước khi nhân rộng.

Công nghệ địa hóa tại Đại Hùng giúp giảm chi phí bao nhiêu?

Với quy mô kiểm tra 3 giếng mỗi năm, chi phí giảm từ khoảng 320.000 USD xuống khoảng 40.000 USD, tức tiết kiệm khoảng 280.000 USD mỗi năm, tương ứng giảm 87,5%. Tổng giá trị làm lợi lũy kế đạt khoảng 2 triệu USD sau 7 năm.

Phương pháp phân tích dấu vân địa hóa hoạt động ra sao?

Phương pháp dựa trên sự khác biệt về thành phần hóa học của dầu thô ở từng tầng chứa. Nhóm nghiên cứu phân tích mẫu bằng sắc ký khí và khối phổ, đối chiếu với mẫu hỗn hợp tại miệng giếng rồi tính định lượng tỷ lệ đóng góp của từng tầng.

Kết quả địa hóa có chính xác so với phương pháp truyền thống không?

Theo bài viết, khi đối chiếu với phương pháp đo địa vật lý truyền thống, phương pháp địa hóa cho kết quả với sai số dưới 3%. Tại giếng DH-13P, tầng đá vôi đóng góp trung bình 91,4% dòng sản phẩm qua 7 lần lấy mẫu.

Nguồn: Tổng hợp từ Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ (đăng ngày 05/11/2026)