Cửa Ba Lạt: giải mã địa mạo ven biển để chống xói lở, bảo vệ sinh kế
Công trình nghiên cứu của GS.TS Trần Nghi về địa mạo ven biển từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy giải thích vì sao bờ biển Nam Định xói lở, bờ biển Ninh Bình bồi tụ mạnh và đã được ứng dụng vào đê biển, kinh tế và du lịch.
Tóm tắt 30 giây
- Công trình nghiên cứu địa mạo ven biển từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy của GS.TS Trần Nghi được đánh giá là đóng góp cả về lý thuyết và thực tiễn.
- Năm 1787, trận lũ vỡ đê khiến dòng chính sông Hồng chuyển từ cửa Hà Lạn (Nam Định) sang cửa Ba Lạt (Thái Bình).
- Từ năm 1960, bờ biển phân hóa: Thái Bình giảm bồi tụ, Ninh Bình tăng đột biến, Nam Định xói lở mạnh khoảng 19,5 m mỗi năm.
- Kết quả nghiên cứu được dùng làm luận cứ cho hệ thống đê biển Nam Định, khai thác quỹ đất mới nổi và du lịch sinh thái.
Cửa Ba Lạt, nơi cảnh quan luôn biến động
Cửa Ba Lạt là nơi dòng sông Hồng mang phù sa hòa vào biển, có hệ sinh thái đa dạng gồm bãi bồi, cồn cát, đầm phá và rừng ngập mặn che chắn cho đất liền, đồng thời là một phòng thí nghiệm tự nhiên về địa chất, địa mạo và hải dương học. Điểm đặc biệt là cảnh quan nơi đây liên tục biến đổi theo các chu kỳ, và những biến động bồi tụ, xói lở ảnh hưởng trực tiếp tới hàng vạn người dân ven bờ.
Theo các phân tích thủy văn, sông Hồng có lưu lượng lớn, mang theo nhiều phù sa; lưu lượng lớn nhất từng ghi nhận là 38.560 m3/s vào tháng 8/1971. Trong quá khứ, lượng vật liệu lơ lửng tập trung tại cửa Ba Lạt rất cao, tạo ra quá trình bồi tụ mạnh, hình thành các cồn cát lớn như cồn Vành, cồn Lu, cồn Ngạn và mở rộng đất liền lấn ra biển.
Từ lũ vỡ đê năm 1787 đến xói lở hiện nay
Nghiên cứu lịch sử hình thành châu thổ sông Hồng trong thời kỳ Holocen muộn cho thấy quá trình bồi tụ liên tục từ khoảng 5.000 năm trước đến năm 1787. Sau trận lũ vỡ đê năm 1787, dòng chảy chính của sông Hồng, vốn đổ về cửa Hà Lạn (Nam Định), bị lấp cạn thu hẹp và chuyển sang đổ về cửa Ba Lạt (Thái Bình). Giai đoạn này bờ biển Thái Bình và Ninh Bình bồi tụ mạnh còn bờ biển Nam Định bồi tụ rất yếu.
Từ năm 1960 đến nay, bờ biển phân hóa đột biến: tốc độ bồi tụ ở Thái Bình giảm dần, Ninh Bình tăng đột biến, còn Nam Định xói lở mạnh, mỗi năm khoảng 19,5 m. Một minh chứng là nhà thờ Hải Hậu xây năm 1930 hiện nằm ở vùng biển ven bờ, cách bờ biển hiện tại 2 km. Đây là bài toán hóc búa đòi hỏi nghiên cứu bài bản.
Cách tiếp cận địa chất - lịch sử và địa - hệ sinh thái
Trước đây các nghiên cứu chủ yếu theo cách tiếp cận thủy văn, thủy lực để làm rõ cơ chế xói lở và đưa ra giải pháp phòng chống tức thời. Các nhóm nghiên cứu hiện đại chọn phương pháp địa chất - lịch sử toàn diện hơn, dựa trên khái niệm địa - hệ sinh thái, tức hệ thống gồm địa chất trầm tích và hệ sinh thái có quan hệ nhân quả và biến đổi theo thời gian địa chất.
Ba kết quả được nêu: ứng dụng địa - hệ sinh thái và địa tầng phân tập chứng minh sông Hồng đổi dòng từ cửa Hà Lạn sang cửa Ba Lạt năm 1787 do lũ vỡ đê; xác định nguyên nhân xói lở bờ biển Hải Hậu và tốc độ bồi tụ mạnh, khoảng 100 m mỗi năm, ở cửa Đáy là do đắp đập sông Sò.
Ba hướng ứng dụng vào thực tiễn
Thứ nhất, về an toàn dân sinh và thích ứng biến đổi khí hậu, kết quả khoa học cung cấp luận cứ để thiết kế, nâng cấp và củng cố hệ thống đê biển Nam Định, giúp chuyển từ chống đỡ bị động sang quy hoạch không gian phòng hộ khoa học, bảo vệ tài sản và sinh kế của hàng chục nghìn hộ dân ven bờ.
Thứ hai, về kinh tế nông nghiệp và khai thác tài nguyên, nắm bắt chu kỳ bồi tụ mở ra tiềm năng gia tăng quỹ đất; các dải đất mới nổi được kiểm soát để phát triển nuôi trồng thủy sản sinh thái, khai thác vật liệu xây dựng và mở rộng không gian nông nghiệp. Thứ ba, khu vực cửa Ba Lạt gắn với Vườn quốc gia Xuân Thủy được tỉnh quy hoạch thành điểm đến trải nghiệm chất lượng cao, góp phần nâng cao ý thức bảo tồn rừng ngập mặn.
Ý nghĩa với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà khoa học Việt Nam
- Địa phương ven biển và đơn vị thiết kế đê biển có thể dùng cách tiếp cận lịch sử hình thành bờ biển để xác định nguyên nhân xói lở trước khi chọn giải pháp.
- Doanh nghiệp thủy sản, du lịch sinh thái nên theo dõi quy hoạch quỹ đất mới nổi và bảo tồn rừng ngập mặn.
- Viện nghiên cứu, nhà khoa học có thể thấy rõ giá trị của nghiên cứu cơ bản khi gắn với bài toán thực tiễn của địa phương.
Vì sao bờ biển Nam Định bị xói lở mạnh?
Theo nghiên cứu, từ năm 1960 bờ biển khu vực phân hóa đột biến, trong đó bờ biển Nam Định xói lở mạnh khoảng 19,5 m mỗi năm. Nghiên cứu cũng xác định nguyên nhân xói lở bờ biển Hải Hậu liên quan tới việc đắp đập sông Sò.
Năm 1787 có sự kiện gì liên quan tới sông Hồng?
Trận lũ lớn làm vỡ đê năm 1787 khiến dòng chảy chính của sông Hồng, vốn đổ về cửa Hà Lạn thuộc Nam Định, bị lấp cạn thu hẹp và chuyển sang đổ về cửa Ba Lạt thuộc Thái Bình.
Kết quả nghiên cứu cửa Ba Lạt được ứng dụng ra sao?
Kết quả được dùng làm luận cứ thiết kế, nâng cấp hệ thống đê biển Nam Định, định hướng khai thác quỹ đất mới nổi cho nuôi trồng thủy sản sinh thái, vật liệu xây dựng, nông nghiệp và phát triển du lịch trải nghiệm gắn với Vườn quốc gia Xuân Thủy.
Nguồn: Tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ (đăng ngày 28/10/2026)

El Nino rất mạnh kéo dài, nhiệt độ cao hơn trung bình đến tháng 1/2027
Quyết định 49/2026/QĐ-TTg: thủ tục xác định dự án công nghệ lạc hậu
KH&CN nông nghiệp: giảm 30% phân đạm, chọn bài toán trước 20/11
Các đề tài khoa học công nghệ về môi trường và biến đổi khí hậu Viện đã tham gia
Bình luận (0)